Danh mục mặt hàng thực phẩm nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm

1. Về thực phẩm nhập khẩu không thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại Thông tư, Quyết định của các Bộ quản lý chuyên ngành

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật An toàn thực phẩm và Nghị định số 15/2018/NĐ-CP thì tất cả thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm trừ các trường hợp được miễn kiểm tra được quy định tại Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Tuy nhiên, thực tế phát sinh nhiều trường hợp thực phẩm không thuộc diện miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm và không thuộc danh mục hàng hóa phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm của 03 Bộ được Chính phủ giao quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương) dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong việc thực hiện quy định liên quan đến an toàn thực phẩm. Do đó, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) có công văn số 19/TCHQ-GSQL ngày 03/01/2023 trao đổi với Bộ Y tế, Bộ NN & PTNT, Bộ Công Thương  về vướng mắc liên quan đến việc kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018. Theo đó, các Bộ có ý kiến tại các công văn số: 356/ATTP-KN ngày 24/02/2023 của Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm), 2465/BCT-KHCN ngày 25/04/2023 của Bộ Công Thương, 556/QLCL-TTPC của Bộ NN & PTNT (Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản). Tuy nhiên, ý kiến của các Bộ tại các văn bản nêu trên chưa rõ và chưa thống nhất.

Do vậy, ngày 30/8/2023 Tổng cục Hải quan tổ chức cuộc họp trao đổi với đại diện của  Bộ Y tế, Bộ NN & PTNT, Bộ Công Thương về vướng mắc nêu trên và thống nhất như sau:

Danh mục mặt hàng thực phẩm nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP được quy định tại:

- Thông tư số 11/2021/TT-BNNPTNT ngày 20/09/2021 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành bản mã số HS đối với danh mục hàng hóa thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông và danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Thông tư số 28/2021/TT-BYT ngày 20/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục thực phẩm, phụ gia thực phẩm và dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm đã được xác định mã số hàng hóa theo danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam phục vụ cho kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu;

- Quyết định số 1182/QĐ-BCT ngày 06/04/2021 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc ban hành danh mục các mặt hàng nhập khẩu (kèm theo mã HS) thực hiện kiểm tra chuyên ngành thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương.

Thực phẩm nhập khẩu không thuộc danh mục thực phẩm phải kiểm tra nhà nước tại các Thông tư số 11/2021/TT-BNNPTNT, Thông tư số 28/2021/TT-BYT, Quyết định số 1182/QĐ-BCT nêu trên, doanh nghiệp nhập khẩu không phải thực hiện quy định về kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu; Việc kiểm tra, quản lý hàng hóa nhập khẩu khi doanh nghiệp bán, sử dụng tại Việt Nam thuộc trách nhiệm của Bộ quản lý chuyên ngành.

Các Bộ quản lý chuyên ngành tăng cường kiểm soát đối với thực phẩm nhập khẩu không thuộc danh mục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm tại các Thông tư, Quyết định của Bộ ngành nêu trên sau khi hàng hóa đã được thông quan.

2. Về kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa, nguyên liệu nhập để gia công, sản xuất, xuất khẩu và sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu chuyển tiêu thụ nội địa:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4, khoản 7 Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP thì “Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước” thuộc diện miễn thủ tục tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm.

Trong quá trình triển khai quy định nêu trên phát sinh 02 vấn đề như sau:

- Vấn đề thứ 1: Sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu dùng để phục vụ sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân (sản phẩm sản xuất ra để tiêu thụ nội địa) có được miễn tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm hay không?

Về vấn đề này, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã có các văn bản trao đổi với các bộ và nhận được ý kiến của các bộ tại các văn bản: 6329/BYT-ATTP ngày 24/4/2018 của Cục An toàn thực phẩm Bộ Y tế, 9150/BCT-KHCN ngày 09/11/2018 và công văn số 3474/BCT-KHCN ngày 17/5/2019 của Bộ Công Thương, 8367/BNN-QLCL ngày 25/10/2018 và 3581/BNN-CLCL ngày 23/5/2019 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn.

Căn cứ theo Điều 61 Luật An toàn thực phẩm giao Bộ Y tế chịu trách nhiệm về quản lý an toàn thực phẩm, do vậy, trên cơ sở ý kiến của Bộ Y tế, Tổng cục Hải quan đã có văn bản hướng dẫn Cục hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện thống nhất như sau: Đối với sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu dùng để phục vụ sản xuất bao gồm: sản xuất để xuất khẩu hoặc sản xuất để tiêu thụ nội địa hoặc gia công cho đối tác nước ngoài (sản phẩm, nguyên liệu không tiêu thụ tại thị trường trong nước) được miễn thủ tục tự công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 4, khoản 7 Điều 13 Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

- Vấn đề thứ 2: Đối với sản phẩm (được sản xuất ra từ sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu được miễn tự công bố sản phẩm và kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm) khi tiêu thụ nội địa thì việc quản lý an toàn thực phẩm như đối với hàng sản xuất trong nước hay hàng nhập khẩu?

Đối với vấn đề này, phát sinh 2 trường hợp:

(i) Trường hợp là sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu: Theo mục đích khai báo ban đầu, doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm, nguyên liệu để gia công, sản xuất xuất khẩu tức là sản phẩm sản xuất ra để xuất khẩu nhưng sau đó doanh nghiệp thay đổi mục đích, không xuất khẩu mà tiêu thụ sản phẩm đầu ra tại thị trường trong nước. Theo quy đinh của pháp luật hải quan, doanh nghiệp được chuyển mục đích tiêu thụ nội địa và phải thực hiện chính sách thuế và chính sách mặt hàng theo quy đinh tại khoản 5 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP). Theo đó, khi chuyển tiêu thụ nội địa, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục hải quan và áp dụng chính sách thuế, chính sách mặt hàng tại thời điểm mở tờ khai mới (tức là phải thực hiện chính sách mặt hàng đối với hàng nhập khẩu quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP).

+ Về chính sách về thuế đã được Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC và không có vướng mắc trong quá trình thực hiện.

+ Về chính sách mặt hàng: Nghị định số 15/2018/NĐ-CP không quy định cụ thể đối với trường hợp hàng gia công sản xuất xuất khẩu khi chuyển tiêu thụ nội địa mà chỉ quy định việc quản lý an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu. Việc thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đổi với trường hợp này không đáp ứng trình tự thủ tục quy định tại Điều 19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP (trước hoặc khi hàng về đến cửa khẩu chủ hàng phải nộp hồ sơ đăng ký kiểm tra trong khi hàng được sản xuất tại Việt Nam). Theo đó, khó khăn cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hóa.

(ii) Trường hợp sản phẩm sản xuất ra từ sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất nội bộ theo mục đích khai báo của doanh nghiệp (không phải gia công, sản xuất xuất khẩu) thì khi tiêu thụ nội địa không phải làm thủ tục hải quan, theo đó không phải tuân thủ chính sách mặt hàng đối với hàng nhập khẩu như nêu tại điểm (i) dẫn trên.

Như vậy, có sự ứng xử chưa thống nhất giữa sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu và sản phẩm ngay từ khi nhập nguyên liệu đã xác định là sản xuất trong nước, vì cùng đều được sản xuất từ sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu được miễn kiểm tra ATTP nhưng khi tiêu thụ sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu tại thị trường trong nước thì bị áp dụng chính sách mặt hàng khác nhau.

Do vậy, ngày 30/8/2023 Tổng cục Hải quan tổ chức cuộc họp trao đổi với đại diện của  Bộ Y tế, Bộ NN & PTNT, Bộ Công Thương về vướng mắc nêu trên và thống nhất như sau:

Đối với sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu (được sản xuất từ sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu doanh nghiệp khai báo để gia công hoặc sản xuất để xuất khẩu) nhưng không xuất khẩu mà chuyển tiêu thụ nội địa thì việc kiểm tra, kiểm soát an toàn thực phẩm thực hiện theo các thủ tục quy định đối với sản phẩm sản xuất trong nước tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, không thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm như đối với thực phẩm nhập khẩu quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP; Cơ quan hải quan chỉ thực hiện các biện pháp quản lý thuế, việc áp dụng chính sách mặt hàng do Bộ quản lý chuyên ngành thực hiện như đối với hàng hóa sản xuất trong nước.

3. Về vướng mắc trong việc xác định hàng hóa phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm

Theo quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP thì khi nhập khẩu thực phẩm doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan hải quan: (i) Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm (doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm và được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm thì được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại Điều 6, 7, 8 và khoản 1 Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP) hoặc (ii) Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm (doanh nghiệp thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại Điều 16, 17, 18, 19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP) để được thông quan hàng hóa.

Tuy nhiên, cơ quan hải quan và doanh nghiêp gặp khó khăn trong việc xác định thực phẩm nhập khẩu thuộc trường hợp (i) hay (ii) nêu trên do các khái niệm, định danh hàng hóa và nội dung quy định giữa Luật An toàn thực phẩm, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP và Thông tư số 28/2021/TT-BYT liên quan đến hàng hóa phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm không đầy đủ, không trùng khớp.

Theo đó, Bộ Tài chính (Tổng cục hải quan) đã có văn bản trao đổi và tổ chức cuộc họp ngày 30/8/2023 trao đổi với Bộ Y tế về nội dung vướng mắc nêu trên.

Tại cuộc họp ngày 30/8/2023, đại diện Bộ Y tế có ý kiến: trường hợp người khai hải quan khai mặt hàng nhập khẩu là thực phẩm thì cơ quan hải quan thông quan hàng hóa trên cơ sở Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm quy định tại điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP hoặc Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Việc xác định thực phẩm nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký bản công bố sản phẩm theo quy định tại Điều 6 tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP hay phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP do cơ quan kiểm tra nhà nước do Bộ Y tế giao, chỉ định xác định và chịu trách nhiệm.

Căn cứ quy định tại Điều 61 Luật An toàn thực phẩm thì Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, các bộ phối hợp với Bộ Y tế. Do vậy, Bộ Tài chính nêu các vấn đề các vướng mắc nêu tại điểm 1, 2, 3 dẫn trên, đề nghị Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cơ quan liên quan và doanh nghiệp thực hiện thống nhất các vướng mắc nêu trên.